Trường Sa, giọt dầu và biển cả

 

                                                                                                           Dạ Ngân

 

 Năm ngoái, cũng đúng những ngày báo Tết âm lịch sắp lên khuôn như lúc này, một người khách bước vào chỗ làm việc của Ban Văn. Tay xách một gói nặng, người thanh niên ấy tự xưng là Nam Hải, phóng viên báo Nông thôn ngày nay sắp đi Trường Sa và theo lệnh của tổng biên tập Mai Nhung, cậu mang tới 50 cuốn "Tản mạn hồn quê" cho tôi ký tặng. Số là mấy năm qua tôi giữ chuyên mục Tản mạn hồn quê hàng tuần cho báo Nông thôn ngày nay, Nxb Phụ Nữ vừa in lại thành tập gồm 100 bài và toà báo đã mua sách để làm quà cho lính đảo. Đúng là một sáng kiến đầy tính nữ của một TBT nữ. Thật vinh dự cho tôi, ít ra là tôi cũng cảm thấy như vậy trong thời khắc đó dù cuốn sách thuộc loại dễ đọc, nó là một thể loại tản văn thịnh hành và tôi luôn cố làm cho những bài viết của mình hồn hậu, bình dị, nhẹ nhàng hợp với ý niệm hồn quê do toà báo đặt ra.

 

Ngoài trời mưa nhẹ nhưng rét đậm, không khí bời bời để nhớ để thương những người đang phải ở rất xa đất liền. Nghe đâu những ngày này ở ngoài đó sắp hết mưa, giữa một biển nước mà lính đảo phải viết lên thùng "nước là máu" thì gian nan thời Trường Sơn chắc đã thấm gì! Buổi chiều cơ quan báo Văn nghệ thường vắng vẻ, 50 cuốn sách trên bàn, cậu phóng viên đang sốt ruột mà tôi lại bần thần rưng rưng. Tôi đưa cho Nam Hải tờ báo để câu giờ và chăm chút viết từng dòng riêng cho từng cuốn sách. Tôi không đủ gan như nhà thơ Đỗ Bạch Mai cùng cơ quan - người đã đi một chuyến Trường Sa nhiều năm trước - bởi tôi mù bơi, tôi sợ nước và sợ cả bệnh say sóng của mình nhưng cũng như mọi người Việt Nam đang ở khắp mọi nơi trên thế giới, tôi luôn thấy có Trường Sa ở trong lòng. Biển cả, mịt mùng, sóng gió, đương đầu, máu xương… hình như chỉ có ở Trường Sa thì mới có đủ những điều khắc nghiệt ấy so với những nơi cùng thân phận hải đảo của cương thổ quốc gia. Hoàng Sa và Trường Sa đã vang lên trong chúng tôi dư âm mất mát ngay sau năm 1975, lúc đó không ít người đã cắn răng nghĩ, rằng lẽ nào các nước nhỏ cứ mãi là con tốt trên bàn cờ của các nước lớn? Vậy thì nước nhỏ phải tự mạnh lên nhưng mạnh không thì đã đủ chưa, hay phải cậy vào ơn trời để thế giới mau chóng đại đồng cá lớn thôi nuốt cá bé?

 

Quả là Hoàng Sa và Trường Sa không lúc nào yên trong tình cảm người Việt. Tôi băn khoăn với từng chữ từng câu sao cho nó nặng hơn những điều đã có trong sách. Không khí yên tĩnh trang trọng suốt mấy giờ đồng hồ để tôi nghĩ đủ 50 câu đề tặng khác nhau. Cầu chúc, trao gửi, tin yêu, giải bày, mong mỏi, ký thác… Sau chuyến ấy Nam Hải viết bài nói rằng món sách được vồ vập nhất và nước mắt đã rơi cùng với cùng với nụ cười khi lính đảo áp những quyển sách lỡ bị sóng đánh ướt sũng vào ngực. Một kỷ niệm lớn, một buổi chiều đặc biệt trong đời tôi và tôi đã cẩn trọng đúng. Nếu hôm ấy tôi vội vàng và đại khái, chắc chắn món quà đã không xứng đáng như tôi được biết từ bài báo của phóng viên Nam Hải.

 

*

Tôi nhớ lần đầu tiên mình ngắm biển một cách ngậm ngùi chứ không háo hức là khi ngồi trực thăng ra giàn khoan dầu khí. Đã gần 10 năm khi tôi ngồi viết những dòng này. Xe buýt chở ra nhà ga, phòng chờ đậm không khí văn minh công nghiệp, những chiếc ghế và những người cắm cúi đọc sách trước khi lên máy bay, tiếng ồn của trực thăng và sự ít nói của những người cùng một mối lo khi bắt đầu nhốm chân khỏi mặt đất. Dân đi giàn đổi nhau nửa tháng một ca, nói theo cách nói của cánh trên bờ là "đi làm bằng máy bay sướng cha thiên hạ còn gì". Nhưng hãy thử đi một lần rồi sẽ biết. Ngành dầu khí kén người vào loại số một. Bằng cấp, kỹ năng, trí năng và cả thể lực. Ngồi vào ghế của máy bay trực thăng và đeo cáp chống ồn lên là không ai bảo ai, hầu hết dân đi ca đều tranh thủ chợp mắt để khi đặt chân xuống giàn đã phải vào vị trí ngay, phần sách văn học đọc dở ban nãy sẽ được giải quyết vào những đêm không ngủ giữa tiếng ồn và biển khơi. Từ dưới cánh máy bay là vùng biển Vũng Tàu nức tiếng nhưng ở chếch phía xa trên Nha Trang còn lộng lẫy hơn. Non sông đúng là thanh bình gấm vóc. Thế nhưng càng ra khơi xa, tâm trạng bất an càng lớn. "Không có đất liền thì con người cũng không có gì cả", đó là câu cửa rmiệng của dân đi giàn mà tôi bắt đầu thấy thấm thía khi nhìn từ trên cao xuống. Đại dương xanh hút lạ lùng, màu xanh thách đố và vĩnh cửu. "Trời thì xanh như rút ruột mà xanh", một câu thơ tài của Thi Hoàng bật lên âm thầm và không khỏi liên tưởng đến ruột gan biển cả đang mang trong lòng nó biết bao bí ẩn và cuồng nộ. 

 

Nhắm mắt lại để hình dung thềm lục địa của đất nước may mắn có tới hơn 3000 km bờ biển uốn lượn duyên dáng, hữu tình. Hỏi người kỹ sư ngồi cạnh rằng từ giàn khoan có thể nhìn thấy một chấm đảo nào của Trường Sa không, người đó lắc đầu bảo "Giàn mình đang ra ở vùng mỏ Bạch Hổ gần nhất, Đại Hùng còn xa nữa mà Trường Sa thì tít mù xa, trực thăng không ra nổi". Biển mà chúng ta từng ưa thích là thứ biển chỉ đủ sóng để tung tăng, ra xa chút nữa là thứ biển xanh thẳm hấp dẫn yên bình nhưng biển của dầu khí và biển của Trường Sa thì sóng gió bao phủ không biết đường nào mà lần. Máy bay hạ cánh trên chiếc giàn cách bờ 6 hải lý, những người con của tâm lý lúa nước và rau muống lật đật ra khỏi cầu thang máy bay để chui vào chiếc giàn khoan có khu làm việc khép kín 24/24. Lại chạnh nhớ những người cùng gốc gác như mình, tức những người cũng ngại biển cũng kém bơi, cũng lâng châng thèm nhớ đất liền đang ở một nơi mà trực thăng không ra nổi. Họ còn không có một khu nhà mái lạnh 24/24 để chui vào, thậm chí phải bó chân trên chòi canh quanh năm trên đảo chìm mà nếu kẻ thù có vây thì đành ôm nhau chết khát. Cũng có lúc bước ra giàn đi xuống chân đế lúc trời êm biển lặng để thấy lũ cá đẹp như cá trong bể kính hoặc ngồi trên nóc giàn vào lúc trăng lên để đố nhau xem Trường Sa ở hướng nào và có thể ứng với chòm sao nào nếu chiếu thẳng từ trời xuống lúc những đêm trăng sao vằng vặc như vầy.

 

Nếu chưa đi giàn thì chỉ biết một xẻng than được moi lên từ lòng đất có cả mồ hôi và nước mắt dân thợ. Mồ hôi và mạng sống thì đúng hơn. Nhớ lần mang ủng vào chân và cài đèn bình vào trán để đi xuống hầm lò ở Quảng Ninh. Mấy trăm bậc thang hun hút như đang chui xuống âm ti, người thợ phải đi hai cây số xuống và hai cây số lên mỗi lần đi ca như vậy nhưng người ta còn phải xếp hàng ngoài mỏ để được vào làm thợ hầm lò đấy. Vòng vèo, ngộp ngạt, cuối đường hầm là đôi mắt trắng dã của một người thợ trẻ đang cào từng xẻng than dưới cái trần cây cắm chéo như trần nóc công sự ngày trước. Chợt nghĩ một túi nước ở đâu đó trong từng mạch vỉa có thể bục ra bất thần và thế là… Người thợ trẻ giục :"Cô quay lại đi cô, đừng ở đây lâu". Nhớ mãi nhớ mãi ánh mắt và hàm răng của người thợ trên gương mặt nhẽm than và tâm trạng sợ chết của mình lúc ngồi dưới cái trần tạm bợ ấy. Nửa tháng sống ở giàn đủ mang theo bệnh viêm mũi mà dân đầu khí gọi là "bệnh giàn khoan", đủ thấy tận mắt vốc dầu thô là như thế nào và cũng đủ nghiền mgẫm rằng thêm rằng một vốc than và một vốc dầu thô thì có lẽ vốc dầu nhiều gian nguy hơn dù điều kiện khai thác như là hiện đại hơn. Một giọt dầu là một giọt mồ hôi và nó đã từng có cả những giọt máu của những chàng trai đang phải canh giữ tài nguyên dưới lòng cát biển sâu cho muôn đời con cháu.

 

*         

Càng ngày càng thấy trong lý lịch của mình đáng lẽ phải khai là mù bơi để nỗi xấu hổ này được công khai hoá đi. Là dân miền Tây sông nước mà mù bơi thì đáng xấu hổ quá chứ gì. Mù bơi đến mức hồi chiến tranh không sợ bom đạn bằng sợ vượt sông vì nếu vượt sông mình có thể làm vướng đồng đội và có thể cả đám sẽ chết chùm, trong đó mình là kẻ bị chết đuối trước tiên. Lại nhớ một lần xuống tàu đò, không thấy nóc tàu có áo phao, hỏi chủ tàu sao nhà tàu không lo áo phao, chủ tàu cười khẩy trả lời và mình đã tức tối quay lên tìm đi chiếc tàu đò khác. Về quê thấy cô cháu họ mua ghe máy đi chở lúa mướn mà không chuẩn bị bất cứ thứ phao nào để mang theo. Nói: "Để dì mua tặng cho vợ chồng con hai cái áo phao nghen", trả lời "Đừng mua, đừng mua, mua áo đem theo xui lắm dì ơi!". Đành chịu thua, đã mù bơi mà còn sợ đem áo phao sẽ mang điềm gở đi theo thì xem ra thật phí cái vùng đất sông ngòi như mao mạch và có biển đông lẫn biển tây vây bọc nữa.

 

Nhiều lần đứng trong sân trường đại học và không khỏi chạnh lòng khi thấy nam sinh viên nước mình nhỏ thó vai so cổ rụt quá. Không hiểu sao thể lực đàn ông con trai bây giờ lại thua kém cha ông xưa dù cá biệt có một số người có thể nặng cân hơn. Cuộc sống công nghiệp chăng, hậu quả chiến tranh ròng rã chăng, bất hạnh của thời đói ăn đói sữa chăng? Hay đây là dấu hiệu tha hoá chung của loài người trong quá trình hỗn loạn sinh sôi và tàn sát thiên nhiên? Không khỏi hình dung những người lính oai hùng xưa trên mình ngựa, nếu họ cũng xanh ẻo và mảnh dẻ như đa số thanh niên ta ngày nay thì liệu có còn quốc gia và xã tắc không? Hình như chúng ta đã không có chiến lược kỹ cho thể lực của người Việt. Được biết ở các nước văn minh, trong lý lịch trích ngang của từng người hay có khoản: Xin cho biết môn thể dục mà bạn theo đuổi. Học sinh tiểu học ở ta chỉ có mấy phút thể dục huơ tay huơ chân qua loa trên sân trường, hoàn toàn không có môn bơi trong giáo trình của một đất nước có hơn 3000 km bờ biển và vô số sông ngòi chằng chịt. Rồi những cô cậu bé tí ấy lên cấp II, lại thể dục qua loa và chỉ có lao động lấy thành tích chứ cũng không có những môn thể dục ưa thích cho mỗi người. Những cô cậu cấp III cũng y sì như vậy, hình như lúc này lại nhiều giáo dục công dân và nhiều giờ chính trị hơn. Đầu vào cho các trường đại học là những con người như vậy và đầu vào quân đội cũng là những con dân nặng nhọc do chán học và ít rèn luyện như vậy.

 

Thiết nghĩ, thế kỷ Hai mươi mốt là thế kỷ của những cuộc chiến từ những giếng dầu. Nhân loại đông nghẹt, trái đất chật ních, con người tham lam, tâm lý tiêu dùng phổ biến nhưng vẫn còn chưa muộn nếu chúng ta có chiến lược khẩn trương để con người Việt Nam có thể đối mặt can cường hơn với biển cả. Nơi đó là thềm của lục địa, là tiềm năng tài nguyên và điều này thì không chỉ lính đảo Trường Sa của chúng ta biết rõ, rằng biển cả là biên thuỳ của cương thổ, là sứ mệnh lịch sử đã lưu truyền, là thách thức mỗi ngày mà chúng ta phải chinh phục để gìn giữ. Có lẽ đây là cái Tết đặc biệt để cả nước đồng lòng nghĩ về Trường Sa và cũng là để chúng ta cùng thấm thía câu "rừng vàng biển bạc" của cha ông. Vâng, rừng vàng biển bạc là sự sống, là sự sống còn của một quốc gia đang có rừng và biển chứ không chỉ là ý nghĩa bề nổi đơn thuần như chúng ta hằng nghĩ./.

                                                             Bài in báo Văn nghệ Xuân Mậu Tý.